Thược dược - ý nghĩa về tình yêu trong sáng thủy chung

Thược dược là một loài hoa đẹp, nhiều màu sắc, nở rực rỡ từ mùa hè sang mùa đông. Hoa thược dược cũng mang ý nghĩa biểu trưng cho một tình yêu trong sáng, thủy chung.


Hoa thược dược

Hoa thược dược có nguồn gốc từ đất nước Mexico. Chúng phát triển tự nhiên trên sườn đồi. Những bông hoa lớn nở rực rỡ từ mùa hè cho tới tận mùa đông tuyết trắng phủ kín. Hoa thược dược khác nhau rất nhiều từ hình dáng, kích thước, màu sắc và kiểu nở hoa.

Hoa thược dược còn có tên là hoa mẫu đơn, tên khoa học là Dahlia variabilis Desf. Thuộc họ cúc (Asteraceae).

Hoa thược dược có màu sắc đẹp, mọc ở đỉnh cành và nách lá, cuống hoa dài. Hoa thược dược đẹp nhưng rất tiếc là không có hương thơm, là một trong những loài hoa được chọn trồng phổ biến.


Thược dược có thể thích nghi với nhiều vùng khí hậu khác nhau, từ khí hậu lạnh (0oC) đến nóng và ẩm. Củ của cây thược dược có tồn tại thời gian ngủ, do đó ở vùng khí hậu ôn đới có sương giá có thể trồng thành công hoa thược dược.

Thược dược ưa sáng tránh nắng, mùa hè ưa mát mẻ, thích mọc nơi nửa bóng râm nửa sáng. Thược dược có khả năng chịu rét, chịu hạn.

Cách trồng hoa thược dược

Hoa thược dược được trồng theo nhiều cách như gieo hạt, trồng bằng củ, giâm cành... Trong đó, trồng bằng củ là cách trồng phổ biến nhất và dễ thực hiện nhất. Nếu muốn trồng thược dược tại nhà, bạn có thể mua củ giống về trồng. Sau 20 - 25 ngày chăm sóc, củ sẽ đâm chồi.


Khi hoa tàn, đừng vội vứt bỏ ngay cây cũ mà tiếp tục để chăm sóc thêm 20 ngày để củ bên dưới to thêm và già. Sau đó, thu gom củ cẩn thận, tránh trầy xước. Sau khi đã rũ bớt nước dễ bảo quản. Chỗ bảo quản cần giữ sạch sẽ, thoáng gió, củ có tóp bớt nhưng sau này mầm sẽ nẩy mạnh và rất nhanh sau khi đem giâm vào đất.

Khi muốn trồng chậu cây mới, bạn lại gieo củ giống vào đất mới.

Cách trang trí hoa thược dược:

Hoa thược dược là một trong những loài hoa tươi rất được ưa chuộng để trang trí nhà cửa. Đó có thể là một lọ hoa để bàn hoặc một vòng hoa treo trước cửa...

Không những thế, hoa thược dược cũng rất được yêu thích dùng trong đám cưới như hoa cầm tay cô dâu, trang trí bàn tiệc.

Đối với lọ hoa để bàn, bạn có thể tham khảo cách cắm hoa đơn giản sau: Chuẩn bị 4 - 5 bông hoa thược dược đỏ sẫm, 1 - 2 cành cẩm tú cầu xanh hoặc tím, một chiếc cốc uống nước.

Thược dược - nữ tướng của các loài hoa

Trong các loài hoa, mẫu đơn đứng đầu, thược dược đứng thứ hai. Mẫu đơn được tôn xưng là "hoa vương", thược dược được coi là "hoa tướng". Danh y Lý Thời Trân của Trung Quốc cũng đánh giá như vậy khi nói về tác dụng chữa bệnh của hai loài hoa này.



Họ : Astheraceae
Có nguồn gốc từ Mễ tây cơ (Mexique ).

Thuộc giống sống lâu với những nơi có khí hậu ấm áp, những vùng khí hậu bốn mùa thì người ta đào củ rễ lên vào cuối thu, rửa sạch và cất vào một nơi thoáng mát không có ánh sáng mặt trời. Rễ của thược được có hình dạng tròn, dính chùm, mỗi củ cho ra một nhánh cây. Thược được rất đa dạng, vô số màu sắc nhưng tuyệt nhiên không bao giờ có màu xanh!

Sự hiện diện của Thược dược màu đen( thật ra đó là màu đỏ rất sậm ) vào năm 1842 đã gây ra bao nhiêu là danh tiếng , đến nỗi Nữ hoàng của Anh quốc , Victoria, bà đã coi như Thược dược đen là hoa của "nửa mùa tang " ( hoặc còn được gọi là mùa tang của vua Albert , phu quân của Bà ! ).

Hoa thược được bắt đầu cho hoa từ đầu tháng bảy đến tận cuối mùa thu, hoa chưa tàn thì các nụ mới đã mọc đầy, không ngừng nghĩ ngơi như các loài hoa khác, vì thế người ta coi Thược dược là ý nghĩa của sự biết ơn ...

Là một giống thân cây rỗng, cao từ 30cm tới 2m.

Có bốn loại thược dược chính thức:

Thược dược xương rồng: cánh hoa cuộn tròn, dài ống và chỉa ra từng cánh nhọn, hoa to rất đẹp.

Thược dược tàn ong : Đây là ngôi sao của việc tạo thành những bó hoa tuyệt đẹp, hoa dạng tròn rất đều đặn, cánh hoa tạo thành hình những lỗ tàn ong.

Thược dược trang trí : dạng hoa rất thường thấy có đường kính từ 20 đến 30cm

Thược dược búp tròn: Loại này có những cánh hoa uốn cong từ nhuỵ tới đài hoa, tạo ra dạng hình như một trái banh, cao từ 60cm đến 1m

Thược được thích đất ẩm ướt, giàu phân bón nhưng tuyệt đối kỵ dầm chân lâu trong nước đọng, vì rể rất dễ bị hư rữa.



Có tên gọi là Dalhia, để tưởng nhớ tới nhà thực vật học Thuỵ điển Andreas Dahl ( học trò của Carl von Linné ), ông đã đưa củ rể Thược dược vào Châu âu vào năm 1788 như một loại thức ăn thời bấy giờ theo phong tục của người Aztèque ( Bộ lạc rất xưa của người Mễ tây cơ ! )! Nói đến đây thì ta nên nhớ là theo phong tục của người Aztèque, họ coi Thược dược là một loại hoa kỳ bí, họ đã dùng nó chế biến ra một loại kỳ dược giúp họ giữ mối quan hệ với thế giới siêu phàm...

Tuy chỉ là "hoa tướng" nhưng thược dược lại thành danh sớm hơn mẫu đơn. Tương truyền từ 3.000 năm trước, vào thời Tam Đại, thược dược đã được trồng để thưởng ngoạn ở rất nhiều nơi trong khi người ta còn chưa biết đến hoa mẫu đơn. Khi mới phát hiện ra mẫu đơn, người ta tưởng đó chỉ là một loài thược dược, nên đã gọi nó là "mộc thược dược". Hai hoa này nhìn thoáng qua rất giống nhau nên người xưa thường gọi là hai chị em.

Về sau, người ta phát hiện mẫu đơn và thược dược tuy cùng họ nhưng là hai cây khác nhau. Thược dược là loài thân thảo, còn mẫu đơn là cây thân gỗ. Thược dược được xếp vào nhóm thuốc bổ huyết, sử dụng chủ yếu để bồi dưỡng cơ thể; còn mẫu đơn thuộc nhóm thanh nhiệt lương huyết, chủ yếu dùng khi cơ thể đã mắc bệnh.

Bạch thược dược (Paeonia Lactiflora) có hoa rất to, mọc ở ngọn thân, tựa như hoa mẫu đơn hay thược dược cảnh. Cánh hoa màu hồng nhạt hay trắng muốt, nhị vàng cam, rễ phình to thành củ. Củ này luộc chín phơi khô chính là vị thuốc bạch thược. Cây bạch thược này không phải là cây hoa thược dược (Dahlia variabilis Desf) vẫn được trồng nhiều trong dịp Tết.

Tương truyền, tác dụng chữa bệnh của bạch thược đã được danh y Hoa Đà phát hiện ra trong một tình huống rất ly kỳ. Để nhận biết và tránh nhầm lẫn các vị thuốc, ông đã trồng đủ thứ cây thuốc quanh nhà. Một hôm có người đem biếu ông cây hoa lạ, nói rằng có thể dùng chữa bệnh nhưng không rõ chữa được bệnh gì. Hoa Đà đem trồng ở góc sân bên cửa sổ.


Xuân tới, cây ra những bông hoa rất to, trắng muốt, thơm như hoa hồng. Ông thử hái hoa sắc uống nhưng không nhận thấy có gì khác lạ. Ông lại hái lá rồi hái cành đem thử cũng không phát hiện điều gì đặc biệt. Nghĩ rằng cây hoa này tuy đẹp nhưng không có tác dụng chữa bệnh nên mấy năm liền, Hoa Đà không để ý đến nó nữa.

Một đêm thu, Hoa Đà đang ngồi đọc sách, bỗng nghe thấy ngoài cửa sổ có tiếng con gái khóc thút thít. Nhìn ra, ông thấy dưới ánh trăng mờ, có một người con gái rất đẹp đang đứng đó khóc. Ông tự hỏi, không biết con gái nhà ai, chắc có nỗi oan ức nào đây. Ông khoác áo ra ngoài nhưng nhìn trước nhìn sau không thấy bóng người nào nữa, chỗ cô gái đứng khóc chỉ còn một cây thược dược.

Hoa Đà đi vào và tự nhủ: "Cho dù nhà ngươi có linh tính thì bây giờ cũng đang là mùa thu, hoa đã tàn, lá đã rụng, còn sử dụng được vào việc gì?".


Nhưng ông vừa ngồi xuống tiếp tục đọc sách thì lại nghe tiếng khóc thút thít, nhìn ra vẫn là cô gái ban nãy. Hoa Đà bước ra, cô lại biến mất, vẫn chỉ có cây bạch thược. Sự việc cứ lặp đi lặp lại mấy lần khiến Hoa Đà vô cùng ngạc nhiên. Ông bèn đánh thức vợ đang ngủ say dậy kể lại chuyện.

Bà nói: "Tất cả các cây trong vườn đều được ông sử dụng làm thuốc cứu người, chỉ có cây bạch thược này bị bỏ quên, chắc là nó có nỗi oan ức". Hoa Đà bảo: "Tôi từng thử tất cả các bộ phận của nó thấy chả có tác dụng, vậy còn oan ức nỗi gì?".

Bà vợ nói: "Ông mới thử những thứ trên mặt đất, còn rễ của nó thì sao?". Nhưng danh y gạt đi: "Hoa lá cành còn chẳng có gì đặc biệt, vậy thì còn thử rễ làm gì?". Dứt lời, ông nằm xuống ngủ thiếp đi. Bà vợ suốt đêm không sao chợp mắt, nghĩ rằng chồng mình đã thay đổi, không còn lắng nghe ý kiến của người khác như trước kia nữa.

Vài hôm sau, bà vợ Hoa Đà bỗng nhiên bị đau bụng, băng huyết rất nhiều, uống đủ thứ thuốc không đỡ. Bà liền lén ra vườn đào rễ cây bạch thược đem sắc uống. Chỉ nửa ngày sau, bụng đã hết đau, máu cũng không còn chảy nữa. Nghe vợ kể lại, Hoa Đà rất cảm kích: "Cảm ơn bà đã thức tỉnh ta, nếu không thì ta đã để mai một cây thuốc quýquý".

Sau sự kiện đó, ông thử nghiệm và nhận thấy ngoài tác dụng giảm đau, cầm máu, rễ bạch thược còn có tác dụng dưỡng huyết và chữa được nhiều bệnh phụ khoa. Cây hoa lạ này ban đầu có tên bạch thược, sau đó Hoa Đà thêm chữ "dược" thành bạch thược dược.

Cùng với thời gian, Đông y phát hiện thêm nhiều công dụng nữa của cây bạch thược. Nó trở thành thuốc bổ huyết thiết yếu, phổ tác dụng rộng và tần suất sử dụng rất cao. Bạch thược chủ trị kinh nguyệt rối loạn, vã mồ hôi, mồ hôi trộm, đau đầu, chóng mặt. Trên lâm sàng y học hiện đại, nó chữa tử cung xuất huyết, viêm thận mạn tính, tăng huyết áp, tiểu đường, viêm võng mạc, cường tuyến giáp...


BÀI THƠ HAY VỀ HOA THƯỢC DƯỢC


Hôn em đi

Nụ hôn của loài hoa thược dược

Những cánh mỏng tênh như câu ước hẹn

Nụ son môi ngọt tựa hồ Thu

Hôn em đi môi thắm non mưa

Thả từng cánh hoa rơi mái hiên mùa lạc gió

Những bông hoa trong khu vườn ngày yêu anh rực rỡ

Thắm mãi cho lòng em mê say...

Hôn em đi cho em ngất ngây

Gió tạo sóng

Cát tạo nhớ

Mưa tạo mây

Hôn em đi cho mắt em xanh lại

Cho mi ngoan không rớt rơi buồn

Ôm em đi cho linh hồn em bớt cô đơn

Choàng lên vai em chiếc áo khoác mang màu hoa bí ẩn

Mùi hương thơm như mùi trong mái tóc

Như mùi anh , mùi nhớ, mùi thương...

Giọt sương sớm đọng nhẹ môi hôn

Những cánh hoa rụng như mưa vì niềm vui trong ngày khát cháy

Ta cuốn vào đam mê

Ta say luồng suy nghĩ

Ta xoáy vào nhau như những kẻ si tình

Hôn em đi nụ hôn hoa thược dược

Cho linh hồn em phiêu linh...Ý NGHĨA VỀ LOÀI HOA THƯỢC DƯỢC
Hoa Thược Dược: sự tươi thắm và tình yêu.
Hoa Thược Dược Trắng: tôi bắt đầu yêu bạn rồi đó.
Hoa Thược Dược Hồng: tôi tự nguyện yêu bạn mãi mãi.
Hoa Thược Dược Vàng: tôi yêu bạn với lòng sung sướng của tôi.
Powered by Blogger.